Hồi ký: Tôi xa trường cấp II Giao Long từ ngày ấy !

Tháng Mười 30, 2018 3:56 sáng

Ngày  ấy khi đất nước ta còn đang có chiến tranh, giặc Mỹ bắt đầu leo thang ra bắn phá miền Bắc. Xã Giao Long, huyện Xuân Thủy (nay là Giao Thủy), tỉnh Hà – Nam – Ninh (nay là Nam Định) được gọi là nơi “Đầu sóng, ngọn gió” của huyện Xuân Thủy, bởi mấy lí do:

Một là: Xã Giao Long là xã ven biển, bên cạnh cổng biến số 8, ở đó có một ổ súng phòng không. Mỗi khi máy bay Mỹ bay vào bắn phá thành phố Nam Định hoặc một số mục tiêu khác sâu trong đất liền thì đầu tiên chúng nã rốc – két vào cống số 8. Nhiều khi không bắn trúng ổ súng phòng không, chúng bắn vào cả xóm làng Giao Long. Khi bay trở về còn bom thừa, vỏ thùng nhiên liệu chúng lại trút hết xuống bãi biển Giao Long và bãi biển một số xã khác gần đấy. Rõ ràng Giao Long thật là nơi nóng bỏng.

Hai là: Xã Giao Long vốn là một xã mới, do dân ở nhiều nơi thuộc huyện Xuân Trường xuống lập ấp tạo lên. Là một xã non trẻ ở xa trung tâm huyện và khá biệt lập với các xã khác. Đường đi tới xã còn quá khó khăn, ai muốn đến xã mà đi bằng xe đạp đều phải vác xe lội qua những quãng lội từ ba mét tới năm mét. Bởi vậy, nói đến xã Giao Long thì ai cũng ngại.

Còn đối với ngành giáo dục thì sao? Giáo dục cũng coi xã Giao Long là tuyến đầu của huyện. Bên cạnh đó, đối với trường cấp II (nay là trường THCS) thì xã Giao Long chưa có trường riêng mà còn chung với trường cấp II xã Giao Hải.

Cuối năm 1966, bắt đầu năm học 1966-1967, tôi được phân công về dạy học ở phân hiệu cấp II Giao Long. Lúc đó, phân hiệu Giao Long có 5 lớp gồm: hai lớp 5, hai lớp 6 và một lớp 7.

Cô giáo Nguyễn Thị Tuất là hiệu trưởng, cùng với 6 giáo viên khác làm thành một hội đồng giáo viên phân hiệu.

Khi chưa về đến Giao Long, tôi còn đôi chút sợ hãi, ngại ngần. Nhưng khi tới nơi tôi thấy không khí chiến đấu của Đảng bộ và nhân dân Giao Long hừng hực khí thế. Lĩnh vực nào cũng được coi như một mặt trận chống Mỹ cứu nước. Nhất là thấy các em học sinh vẫn nô nức tới trường, không thấy ai có vẻ lo sợ, làm xua đi tất cả những gì ám ảnh trong tôi. Thế là tôi chỉ còn lao vào công việc dạy học.

Tuy gặp nhiều khó khăn, bỡ ngỡ với ngôi trường mới, học trò mới, nhưng tôi được lãnh đạo xã Giao Long quan tâm, được nhân dân và học sinh thương yêu, giúp đỡ, làm cho tôi thêm lạc quan, tin tưởng hơn.

Chẳng mấy lúc đã hết một năm học. Bước sang năm học mới (1967-1968) phân hiệu cấp II Giao Long có sự thay đổi đáng kể: Nhà trường chính thức tách khỏi trường cấp II Giao Hải, thành lập trường cấp II xã Giao Long. Cô hiệu trưởng Nguyễn Thị Tuất được đi học nâng cao trình độ và tôi được bổ nhiệm làm hiệu trưởng, cô Ninh làm hiệu phó nhà trường.

Trong năm học mới này cũng đã lớn lên: Tổng số lớp học đã là 7 lớp gồm: ba lớp 5, hai lớp 6, hai lớp 7 với số học sinh khoảng 300 em. Số giáo viên cũng tăng lên, nếu kể cả đồng chí Giang giáo viên bổ túc văn hóa cùng sinh hoạt với trường thì trường có tới 12 giáo viên.

Thế là một trong trách mới đến với tôi. Năm đó, tôi mới 25 tuổi, cái tuổi được coi là non trẻ. Nhưng sống trong thời đại mới nên tôi cũng đủ tinh thần và nghị lực đảm đương nhiệm vụ được giao.

Vào đầu mỗi năm học, bao giờ cũng vậy, sau khi tuyển sinh là việc chúng tôi phải làm trường lớp. Vì lớp học thường chỉ làm bằng tre nứa, lá nên chỉ tồn tại được một năm là phải tu bổ hoặc làm mới lại. Chúng tôi phải dựa vào sự lãnh đạo của chính quyền địa phương và nhân dân, mà nòng cốt là ban Bảo trợ học đường. Giáo viên cùng ban Bảo trợ đi thu tre, thu rạ của phụ huynh đóng góp. Khi làm lớp học, khác với lẽ thường là phải đắp nền nhà, thì ngược lại chúng tôi đào nền thành hố để vừa làm nhà, vừa làm hố tránh bom cho thầy và trò. Các lớp học phải đặt rải rác trong thôn xóm để phân tán học sinh phòng khi máy bay địch bắn phá.

Quá trình giảng dạy còn diễn ra muôn vàn khó khăn nữa. Phương tiện và đồ dùng dạy học hầu như không có gì, ngoài mấy thứ giáo cụ do giáo viên tự tạo. Thầy cô không có thời gian nghỉ giữa giờ, vì thời gian đó còn phải di chuyển từ lớp học này sang lớp khác ở cách xa nhau.  Nếu thầy cô đi guốc, dép vào ngày trời mưa thì cứ đi bước nào lại bị đất giữ chặt lấy guốc, dép bước ấy. Thầy cô đành phải đi chân đất vào lớp nhiều khi không kịp bỏ quần xắn xuống vì đã muộn giờ.

Đời sống giáo viên cũng rất khó khăn. Có người ngoài giờ dạy học còn phải làm thêm những việc như: trồng trọt, chăn nuôi, mò cua, bắt ốc để kiếm thêm thu nhập cho gia đình. Có khi người ta đùa vui mà gọi giáo viên là “người nông dân có nghề tai trái là dạy học”.

Trong hoàn cảnh khó khăn như vậy, thế mà các thầy cô giáo vẫn phải tỏ ra đàng hoàng, đĩnh đạc trước học sinh, vừa phải có tác phong giản dị với nhân dân. Có một lần thầy Giang được người nhà đi nước ngoài về cho một chiếc áo Pô-Pơ-nin trắng. Thầy mặc áo ấy đi ra bãi biển chơi. Lập tức hôm sau nhà trường được lãnh đạo xã nhắc nhở: “ Thầy giáo mà ăn mặc như thế thì gần gũi nhân dân sao được”, vậy là lần sau thầy không dám mặc chiếc áo ấy nữa.

Còn các em học sinh cũng có nỗi khổ riêng. Nhiều em không được ăn no đi học, không được áo ấm đến trường. Các em đến lớp phần lớn đi chân đất, đầu đội mũ rơm.

Người dân Giao Long lúc ấy, tuy ở ven biển mà có mấy khi được ăn tôm cá biển. Những hải sản đánh bắt được đều bị thu mua để chuyển đến các nơi còn khó khăn hơn. Từng khúc sông, từng ao, đầm đều do hợp tác xã quản lí chặt chẽ. Tôi còn nhớ: vì khó khăn học sinh thời ấy có những việc làm mà bây giờ không biết gọi là tốt hay là xấu. Nếu gọi là tốt thì không được vì nó vi phạm quy định của hợp tác xã. Nhưng nói là xấu cũng chẳng đành vì đó là việc làm đương nhiên khi con người rơi vào cảnh sống nghiệt ngã. Tôi chỉ xin nhắc lại hai việc sau đây:

Có lần, vào một buổi chiều tôi đi ra bãi biển chơi. Các em học sinh theo tôi cùng đi. Ra tới bờ biển các em lội xuống vũng nước trong. Tuy nhìn không thấy gì, nhưng chân tay các em cảm nhận thấy tôm, cá. Thế là em nào em nấy mò được tôm bỏ vào túi mang về. Đây là dịp “trời cho” các em có bữa ăn cải thiện. Đến ngày hôm sau, chúng tôi nhận được lời trách móc của HTX là “ Các thầy đi chơi đã cho học sinh đi theo để bắt tôm cá của HTX”.

Một lần khác: khi HTX muốn đánh bắt cá ở các đầm. Vì nhiều  đầm rộng lớn nên phải nhờ đến lực lượng học sinh mới được. Ai ngờ khi tham gia đánh cá , một số em bắt được cá to đã dúi cá vào một chỗ bí mật, để rồi chiều đến giả vờ đi cắt cỏ rồi lấy cá bỏ vào sọt cỏ đem về. Thật là “ nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò” . Nhưng với hoàn cảnh, điều kiện sống như vậy, chẳng phải học trò mà cả một số người lớn cũng ranh ma như thế. Mấy bác nông dân được HTX giao cho canh coi đăng đó, cứ mỗi buổi sáng đi đổ đăng đó, các bác nhịn ăn sáng để khi đổ đăng đó, trước hết làm một nồi tôm luộc ăn cho đỡ đói, còn lại mới mang về HTX.

Còn tôi lúc ấy ở trọ nhà cụ Phan, thôn Nam Long, nhà cụ cũng chẳng lấy gì là rộng rãi. Cụ có bốn người con, kinh tế cũng khó khăn, thế mà vì nhiệt tình với nhà trường nên cụ cứ nhận tôi về ở. Hằng ngày tôi đều đi học , còn hai cụ cũng phải đi làm HTX, trưa về thấy không có thức ăn, cụ lại bắt các con xuống ao mò được con gì bắt con ấy, cho vào nồi nấu ngay làm thức ăn. Hầu như mỗi tháng xuống ao khoảng mươi mười lăm lần, cá tôm không kịp lớn.

Một lần trời có bão to, nhà cụ tuy là nhà gỗ nhưng đắp tường đất, mỗi cơn gió giật nhà cứ đu đưa như võng. Cụ ông sợ hãi, hô cụ bà và các con nhỏ xuống chiếc hầm tránh bom đào ở giữa nhà. Cụ còn hô cả tôi xuống hầm, để cụ và em Toản là con trai lớn ở trên cùng cụ chống trọi với cơn bão, nhưng có lẽ nào tôi lại phải chui xuống hầm. Tôi xin ở lại cùng cụ và Toản, mỗi người ôm một cột, không phải ôm cột để chống nhà mà ôm cột để đề phòng khi nhà đổ còn biết lối tránh bị cột đè. Đấy là kinh nghiệm của cụ. Cũng may sao cơn bão ấy chỉ lướt chừng một tiếng đồng hồ rồi chấm dứt.Tôi rất mừng vì đã qua cơn thử thách của “mưa rừng bão biển”, mọi người trong nhà được trở lại sinh hoạt bình thường.

Tuy vậy ở nhà trường, thầy vẫn dạy tốt, trò vẫn học tốt bởi thầy có tinh thần thi đua “Tất cả vì học sinh thân yêu”, trò luôn thực hiện 5 điều dạy của Bác Hồ: “Yêu tổ quốc, yêu đồng bào. Học tập tốt, lao động tốt…”. Lúc đó, người thầy có dạy thêm để bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh kém cũng không hề có thù lao mà vẫn tranh nhau dạy. Mỗi khi có học sinh không đi học thì thầy chủ nhiệm phải tìm ngay đến nhà để xem vì lí do khó khăn mà bỏ học, thì thầy cô tìm mọi cách vận động gia đình và tìm cách giúp đỡ để em tiếp tục đến lớp.

Đối với tôi, người giữ trọng trách nhà trường, tôi cũng phải cùng thầy cô giáo, với phụ huynh học sinh duy trì bằng được sĩ số lớp. Đồng thời luôn giữ cho trường có không khí vui tươi, lạc quan.

Cũng phải nói rằng, trước những khó khăn, gian khổ thì những người đem lại niềm vui cho thầy cô giáo lúc ấy chình là các em học sinh. Nhìn thầy các em chăm ngoan, vâng theo lời thầy cô, chịu khó vươn lên trong học tập thì tôi thấy hả lòng, hả dạ. Nhớ mãi người lớp trưởng Trần Đức Phàm, lớp phó Trần Thị Én, là những người luôn gắn bó với tôi trong công việc của lớp mà tôi làm chủ nhiệm. Đặc biệt, tôi không quên người học sinh Nguyễn Đình Chiến, em vừa là học sinh ngoan, vừa học giỏi lại luôn vui tươi ca hát. Mỗi lần sinh hoạt lớp em đều xung phong lên hát, bài hát “tủ” của em lúc đó là bài “Đường tôi đi dài theo đất nước” của tác giả Vũ Trọng Hối. Câu hát vẫn văng vẳng bên tai tôi “Đường giao liên bưới tôi đi, dài theo, theo đất nước. Đường tôi đi núi chênh vênh, có mây bay dưới chân giăng thành…”. Giọng hát của cậu học sinh ấy thật tình cảm, trong sáng. Tôi thầm nghĩ: Mai sau khi lớn lên, chắc em sẽ làm được nhiều việc có ích cho quê hương đất nước.

Nhớ tới em Nguyễn Đình Chiến, tôi lại nhớ tới ngày đưa em đi thi học sinh giỏi Toán. Khi ấy, vừa mới nhận được tin em đạt học sinh giỏi của miền Xuân – Long – Hải thì đồng thời cũng được thông báo: sau một tháng nữa em phải đi thi học sinh giỏi Toán cấp huyện tại trường cấp II xã Xuân Hồng, cách Giao Long chừng trên 20 cây số, nhận được tin ấy tôi rất mừng, nhưng cũng rấ ái ngại vì thời gian bồi dưỡng cho em còn ít quá.

Ngày thi đã đến, tôi suy nghĩ: Biết đưa em đi bằng cách nào?  Nếu cho em đi trước một ngày để em có thời gian nghỉ ngơi thì em sẽ ăn nghỉ ở đâu? Nếu sáng sớm ngày đi thi mới đi thì ai đưa em đi và đi bằng phượng tiện gì cho kịp giờ thi? Chẳng còn ai nữa, chính tôi phải đưa em đi.

Sáng sớm hôm sau, đúng hẹn Chiến đến chỗ tôi để đi cùng. Chúng tôi đi bằng xe đạp “cọc cạch”, sở dĩ gọi nó bằng chiếc xe “cọc cạch” vì nó được làm bằng nhiều thứ phụ tùng gia công lắp ghép lại, khi đi nó thường phát ra tiếng kêu “cọc cạch”.

Thế mà chẳng mấy lúc hai thầy trò đã vượt qua quãng đường gian khổ nhất từ xã Giao Long sang sã Giao Hải. Trên con đường từ Giao Hải tới chợ Bể, rồi tự chợ Bể đến dốc Hoành Nha tuy không có “ổ trâu” nữa, nhưng cũng lắm “ổ gà”, đường nông thôn ở đâu mà chả thế. Đã nhiều năm cầm lái chiếc xe đạp này, tôi cũng quen nên cứ đi băng băng. Sau chừng một tiếng đồng hồ chúng tôi tới con đường tỉnh lộ, đường trải đá dăm, tiếng xe đi rào rào và tiếng cọc cạch cùng hòa với nhịp thở của tôi. Quãng đường dài nhất cứ dần trôi về phía sau.

Thấm thoát hai thầy trò đã tới đầu xã Xuân Hồng, nhưng tiếng xe bắt đầu lạc điệu, tôi thở càng nhanh, xe kêu càng chậm. Tiếng cọc cạch nhỏ dần nhường cho tiếng kè..è…ẹt, kè..è…ẹt vang lên. Ôi nghe sao mà thêm sốt ruột…! Bỗng tôi thấy Chiến nói:

– Thầy cho em xuống đây.

– Sao lại xuống đây? Gần tới nơi rồi, chỉ còn cách trường cấp II Xuân Hồng chưa đầy một cây số nữa.

– Thôi thầy cứ cho em xuống, em đi bộ một chút cũng được!

Tôi nghĩ: Chắc em biết tôi đã mệt, trò thương thầy nên cứ nằng nặc đòi xuống đi bộ. Còn tôi, tôi lại lo cho em không kịp giờ thi, với tâm lí vội vàng làm sao em có thể làm bài tốt được?

Thấy Chiến có vẻ nhất quyết đòi xuống xe và tôi cũng chợt nghĩ tới mình hôm nay còn có giờ lên lớp nên đành để em đi bộ một quãng… Chiến chào thầy rồi đi một mạch. Tôi cũng nhảy lên xe và cắm đầu đạp trở về trường.

Về tới Giao Long tôi lại tiếp tục với công việc của một nhà trường trên danh nghĩa mới. Lúc này, trường lớp chưa được tập trung, số lớp nằm rải rác trong thôn xóm càng nhiều hơn trước, không đảm bảo thời gian cho thầy cô chuyển giờ. Nhà trường cũng không có văn phòng, mỗi khi họp hội đồng, giáo viên lại phải nhờ nhà dân. Trước hoàn cảnh đó tôi phải đề nghị UBND xã cho kinh phí, kêu gọi phụ huynh học sinh góp công, góp của để xây dựng trường lớp tập trung và tạo cho giáo viên có chỗ ở. Ý nguyện của thầy trò cũng được đáp ứng ngay.

Cuối năm 1968, trường cấp II Giao Long được xây dựng trên khu đất mới thôn Long Hành, trung tâm xã. Thế là từ nay các em học sinh được học tập trung một nơi. Thầy cô giáo bắt đầu có chỗ ở trong trường. Còn tôi cũng được một gian nhà vừa để ở, vừa để làm việc. Mặc dù chỉ là nhà tranh vách đất, lúc nào cũng sặc mùi tanh của đất bùn mà tôi vẫn cảm thấy sung sướng, tự hào.

Một năm học bận rộn với công việc xây dựng cũng nhanh chóng qua đi, năm học mới 1968 – 1969 đã bắt đầu. Năm nay cũng là thời kì xã Giao Long chuẩn bị đón danh hiệu xã Văn hóa. Thầy trò chúng tôi lại tích cực tham gia vào công việc cải tạo đường làng. Các em học sinh thường phải cùng thanh niên địa phương đi lấy cát ở bãi biển về trộn với đất để rải đường. Hầu hết đường làng đều được làm mới, tuy chỉ là đường đất cát mà đã làm cho quang cảnh của xã sáng sủa, đẹp hẳn lên. Thế rồi ngày đón bằng văn hóa cũng đến, phái đoàn của Bộ Văn hóa đã về thăm xã và vào thăm trường cấp II, nói chuyện với các em học sinh. Rõ thật là phấn khởi, thầy trò chúng tôi được sống trong không khí đổi mới của trường và của xã.

Đang vui với ngôi trường mới “tươi roi rói”, đến năm 1970, tôi nhận được quyết định về công tác tại phòng giáo dục Xuân Thủy. Thế là tôi bắt đầu xa trường cấp II Giao Long, xa các em học sinh thân yêu của tôi từ đấy.

Về phòng giáo dục một thời gian tôi lại được cử đi học luật ở Liên Xô. Khi về nước tôi dạy học tại trường luật chuyên ngành Kiểm Sát ở thành phố Hà Nội. Tưởng như thế là ổn định, ai ngờ một hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đến với gia đình tôi, tôi lại phải xin về công tác ở tỉnh nhà. Đó là Viện Kiểm sát tỉnh Nam Định, đến tuổi về hưu tôi lại chuyển sang Hội Luật gia tỉnh cho tới năm 2015, khi mắt đã mờ, tay đã run tôi mới nghỉ hẳn.

Quá trình công tác ở ngành Kiểm Sát tôi vẫn tham gia dạy học. Ngoài thời gian dạy học ở trường, về tỉnh, nhiều năm tôi phải làm nhiệm vụ: vừa tổ chức lớp vừa trực tiếp dạy bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho cán bộ kiểm sát liên tỉnh: Nam Định, Thanh Hóa, Ninh Bình, Hà Nam, Thái Bình và cả một số cán bộ của Viện Kiểm Sát tối cao nữa. Đôi khi tôi lại được mời đi dạy một số giờ cho trường Hành chính của tỉnh, hoặc lớp bồi dưỡng cán bộ của ngành Tòa án. Như vậy, tuy không ở ngành giáo dục nữa mà “số phận” cứ níu kéo tôi về với nghề dạy học. Đến năm 2006, tôi cũng được tặng kỉ niệm chương vì sự nghiệp Giáo dục đào tạo.

Bây giờ, trong lúc đang sốn an phận với tuổi già thì tôi bỗng nhận được lời mời của các em học sinh lớp tôi chủ nhiệm năm xưa ở Giao Long mời về dự buổi họp mặt thầy trò. Về tới trường cấp II Giao Long nơi tổ chức cuộc họp, tôi vô cùng ngỡ ngàng và xúc động trước những gì mà tôi thấy như lạ lạ, quen quen. Tôi lạ lùng khi thấy các em hoc sinh của tôi năm xưa nay đã là những ông, những bà, thậm chí có cả cụ nữa. Có em đã trở thành kĩ sư, bác sĩ, giáo viên, chuyên viên. Có em trở thành lãnh đạo ở một lĩnh vực nào đó. Đặc biệt một vài em trở thành tướng, tá trong quân đội. Một vị tướng, đồng thời là giáo sư của một học viện quân sự mà tôi muốn nói ở đây chính là em Nguyễn Đình Chiến. Tôi không ngờ, với chiếc xe đạp “cọc cạch” của tôi năm nào, tôi đã đèo một vị tướng của tương lai đi thi học sinh giỏi.

Giờ phút thầy trò gặp nhau tình cảm thật dạt dào, khó tả. Tất cả các em đều khép mình lại, trở thành bé nhỏ như những em học sinh trước đây. Với cử chỉ và giọng nói khiêm nhường của các em làm tôi cũng mau chóng nhận ra các cô, cậu học sinh thân yêu của mình.

Ngày gặp nhau, chúng tôi muốn nói với nhau nhiều chuyện, muốn nâng “chén rượu đậm đà tình nghĩa” để chúc nhau nhiều. Nhưng thời gian có hạn, chúng tôi cũng tạm thời chia tay nhau…

Nguyễn Văn Phúc

Nguyên Hiệu trưởng trường THCS Giao Long